Lưu ý khi sử dụng các thuốc ức chế bơm proton


Thuốc ức chế proton (PPI) là một trong số những loại thuốc được dùng rộng rãi nhất trong thực hành lâm sàng. PPI có hiệu quả cao trong việc làm hạn chế các chứng khoán do tăng vị trí axit và nhìn chung được sử dụng khá tốt. tuy nhiên, không nên liệt kê vô thời hạn PPI đơn mà không đánh giá lại người bệnh. PPI should be used in the low max is the effect and in the short time is can. Việc sử dụng “when need” có thể phù hợp hơn với việc sử dụng mỗi ngày với một vài bệnh nhân. Bệnh nhân nên được cảnh báo về hiện tượng tăng tiết axit hồi phục ứng dụng thường xuất hiện thậm chí trong vòng 4 tuần sau khi ngừng điều chỉnh. nhiều bệnh nhân có khả năng kiểm tra các chứng chỉ sau khi ngừng thuốc này bằng các thuốc thay thế khác như thuốc kháng acid.

dùng PPI

Fptshop.com.vn Trong những năm 1970 và 1980, các thuốc đối kháng với H2, như ranitindin đã ra đời, tiếp theo là các thuốc ức chế proton (PPI) có hiệu quả cao hơn trong dịch chuyển tiết axit. Show PPI đã thay thế các phần lớn thuốc đối kháng với H2 trong thực thi, giúp cải thiện hơn chất lượng đời sống cho thường xuyên bệnh nhân. This lợi ích là PPI tác nhân tạo được sử dụng rộng rãi hơn trong hệ thống thể trạng ban đầu với các nhóm khác thuốc trong các bệnh liên quan đến vị trí tăng tiết axit.

Các PPI chính sử dụng trong thực hành lâm sàng

Ở New Zealand, có 3 thuốc PPI được bảo hiểm xã hội chi trả hoàn toàn trong danh mục thuốc: omeprazol, lansoprazol và pantoprazol. 3 thuốc này cũng có thể mua với số lượng Giảm, không cần kê đơn tại các hiệu thuốc. Rabeprazol hiện chưa được bảo hiểm chi trả và cần được kê đơn.

Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ cả 6 loại PPI được dùng rộng rãi trong thực hành là omeprazole, lansoprazole, dexlansoprazol, pantoprazole, rabeprazole và esomeprazole.

Chỉ định của các PPI

– Điều trị bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GORD), bao gồm cả bệnh thực quản Barrett.

– Dự phòng loét dạ dày – tá tràng liên quan đến NSAIDs.

– Điều trị loét dạ dày – tá tràng lành tính.

– Diệt Helicobacter pylori (phối hợp với kháng sinh).

– Điều trị hội chứng Zollinger – Ellison.

Tính an toàn của PPI

Tỷ lệ gặp công dụng bất lợi liên quan đến PPI tương đối thấp. Tất cả các PPI đều có thể gây đau đầu và các biến cố bất lợi trên tiêu hóa, như buồn nôn, nôn, đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón. Các biến cố bất lợi trên tiêu hóa của PPI đôi khi có thể bị nhầm lẫn với triệu chứng của GORD, làm cho bác sĩ điều trị tăng liều PPI đang dùng cho bệnh nhân vì cho rằng thuốc chưa đạt hiệu quả mong đợi. Ở mức độ ít gặp hơn, dùng PPI có thể gây ra khô miệng, phù ngoại vi, hoa mắt, rối loạn giấc ngủ, mệt, rối loạn cảm giác, đau khớp, đau cơ, phát ban, ngứa và viêm thận kẽ. Chưa phát hiện mối liên quan giữa PPI và tăng tỷ lệ dị tật thai nhi trên người. do đó, PPI được coi là an toàn trong thai kỳ. có thể cân nhắc đến các liệu pháp khác phù hợp cho phụ nữ mang thai cần thuốc ức chế acid bao gồm antacid (calci carbonat, alginat) hoặc ranitidin trước. Nếu những thuốc này không đạt hiệu quả mong muốn thì cân nhắc dùng PPI. Nên tránh dùng PPI liều cao hơn ở bệnh nhân có bệnh gan mức độ trung bình hoặc nặng, do Giảm chuyển hóa ở gan có thể gây ra tích lũy thuốc.

Tăng nguy cơ nhiễm trùng

tác dụng ức chế tiết acid dịch vị của PPI làm tăng nguy cơ nhiễm trùng từ các căn nguyên ở đường tiêu hóa hay hô hấp, dù nguy cơ khá thấp. Nguy cơ cao hơn được cho là do Giảm tác dụng bảo vệ dạ dày của “bức tường acid”, khiến các mầm bệnh sống có thể di chuyển lên hoặc xuống trong đường tiêu hóa và xâm lấn đường hô hấp dưới. Nếu có thể, cân nhắc trì hoãn sử 

dụng PPI cho bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng tăng, như bệnh nhân cao tuổi có người nhà bị cúm, bệnh nhân đang dùng kháng sinh.

Kém hấp thu các chất dinh dưỡng

Acid dịch vị làm tăng độ tan của các chất ở dạng muối không tan (như calci, sắt) và giúp hấp thu các vitamin liên kết với protein (như vitamin B12). Vì vậy, việc Giảm tiết acid dịch vị có khả năng làm hạn chế hấp thu một số chất dinh dưỡng, kéo theo tăng tỷ lệ bệnh liên quan đến kém hấp thu. tuy nhiên, mối liên quan này hiện vẫn còn đang tranh cãi. Ở đa số trường hợp, bệnh nhân có khả năng yên tâm rằng chế độ ăn uống cân bằng, đầy đủ, chứa các chất thiết yếu và chất khoáng (như calci, sắt, folat, magnesi) là đủ để loại trừ nguy cơ này.

dùng PPI kéo dài liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ gãy xương. Tăng nguy cơ loãng xương nên được cân nhắc ở phụ nữ sau mãn kinh dùng PPI kéo dài, đặc biệt nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác, như tiền sử gia đình có người bị loãng xương hoặc sử dụng corticoid kéo dài. Khi đó, có khả năng làm hạn chế nguy cơ này bằng cách dùng PPI ở liều thấp nhất có hiệu quả, hoặc dùng “khi cần” nếu phù hợp.

Hạ magnesi máu nặng liên quan đến việc dùng PPI trên một số ít bệnh nhân, có khả năng cải thiện khi ngừng PPI. Bệnh nhân đang sử dụng PPI, có tiền sử nghiện rượu, có nguy cơ hạ magnesi máu tăng lên do tác dụng hiệp đồng của sử dụng ethanol mạn tính đến chức năng chuyển hóa. sử dụng thuốc lợi tiểu, ciclosporin hoặc kháng sinh aminoglycosid cùng lúc ấy với PPI làm tăng nguy cơ hạ magnesi máu. Các triệu chứng của hạ magnesi máu thường không rõ ràng, có thể bao gồm chuột rút, yếu cơ, dễ bị kích thích hoặc lú lẫn. Không khuyến cáo xét nghiệm magnesi định kỳ ở bệnh nhân dùng PPI. Trong trường hợp bệnh nhân đang dùng PPI kéo dài và có các triệu chứng không rõ tác nhân, tương tự các triệu chứng của hạ magnesi máu thì nên cân nhắc xét nghiệm magnesi máu. Tăng dùng đồ ăn giàu magnesi, ví dụ những loại hạt, rau mồng tơi, lúa mì, hoặc thực phẩm bổ sung có chứa magnesi có thể giúp cải thiện hơn nồng độ magnesi máu trong quy trình điều trị bằng PPI.

Thiếu hụt vitamin B12 liên quan đến sử dụng PPI ở bệnh nhân cao tuổi. một vài thống kê cho thấy PPI làm Giảm hấp thu vitamin B12 trong thức ăn. Ở bệnh nhân cao tuổi có chế độ dinh dưỡng kém, đang dùng PPI kéo dài, cần cân nhắc xét nghiệm vitamin B12 định kỳ.

hạn chế natri máu liên quan đến việc dùng PPI gặp ở rất ít bệnh nhân, và thường gặp hơn ở người cao tuổi.

Viêm thận kẽ cấp tính liên quan đến PPI

Viêm thận kẽ có thể kéo theo tổn thương thận vĩnh viễn. Các triệu chứng và dấu hiệu gợi ý viêm thận kẽ bao gồm: sốt, nổi ban, tăng bạch cầu ái toan, khó chịu, đau cơ, đau khớp, Giảm cân, thay đổi ngay lượng nước tiểu, đái ra máu hoặc mủ có kèm hoặc không kèm theo tăng huyết áp. NSAID cũng được biết đến khá rõ về nguy cơ gây độc thận, do đó, nên chú ý nghi ngờ hơn khả năng viêm thận kẽ ở bệnh nhân đang sử dụng NSAID có xuất hiện các triệu chứng này. Các yếu tố nguy cơ gây ra viêm thận kẽ khác bao gồm kháng sinh beta lactam (penicilin, cephalosporin), sulfonamid, thuốc lợi tiểu, bệnh lý nhiễm trùng, rối loạn miễn dịch hoặc ung thư. Trong trường hợp nghi ngờ viêm thận kẽ, cần soi nước tiểu và kiểm tra chức năng thận. Bệnh nhân cũng nên được gửi khám chuyên khoa thận. Để chẩn đoán xác định viêm thận kẽ, yêu cầu phải sinh thiết thận.

Tương tác thuốc

Quan ngại về có khả năng tương tác giữa omeprazol và clopidogrel không chắc chắn có ý nghĩa lâm sàng. Vì vậy, không cần thiết phải thay đổi chế độ điều trị cho bệnh nhân đang dùng cùng lúc ấy một thuốc PPI và clopidogrel. tuy nhiên, nếu bác sĩ đang cân nhắc kê đơn PPI và clopidogrel, thì khuyến cáo nên chọn pantoprazol do ít có tác dụng ức chế enzym CYP2C19 hơn so với omeprazol và lansoprazol. PPI có khả năng làm tăng nhẹ công dụng chống đông của warfarin hoặc Giảm công dụng này khi ngừng PPI. Bệnh nhân đang dùng warfarin nên được đánh tổng giá trị số INR nhiều hơn khi bắt đầu sử dụng, hoặc ngừng PPI để đảm bảo không gặp tương tác có ý nghĩa lâm sàng.

Nguồn: http://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/133

Khoa Dược



Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *