Zonaarme – Thuốc biệt dược, công dụng , cách dùng – SDK : VD-18176-13


thuốc Zonaarme là gì

✅ Mọi người cũng xem : mypara là thuốc gì

thành phần thuốc Zonaarme

tác dụng của thuốc Zonaarme

✅ Mọi người cũng xem : enpovid a-d là thuốc gì

chỉ định của thuốc Zonaarme

✅ Mọi người cũng xem : mekotricin là thuốc gì

chống chỉ định của thuốc Zonaarme

liều sử dụng của thuốc Zonaarme

Zonaarme

Nhóm thuốc: Thuốc điều trị bệnh da liễu

Dạng bào chế: Kem bôi da

Đóng gói:Hộp 1 tuýp 5g

✅ Mọi người cũng xem : omeprazole capsules 20mg là thuốc gì

Thành phần:

Mỗi tuýp 5g kem chứa: Aciclovir 250mg

SĐK:VD-18176-13

Nhà sản xuất: công ty TNHH MTV 120 Armephaco – VIỆT NAM Estore>
Nhà đăng ký: Estore>
Nhà phân phối: Estore>

✅ Mọi người cũng xem : menison là thuốc gì

Chỉ định:

Điều trị nhiễm Herpes simplex da bao gồm herpes môi và herpes sinh dục, cả khởi phát và tái phát.

✅ Mọi người cũng xem : alphachylin là thuốc gì

Liều lượng – Cách dùng

– Điều trị bằng aciclovir phải được bắt đầu càng sớm càng tốt khi có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

– Bôi lên vị trí tổn thương cách 4 giờ một lần (4-6 lần 1 ngày) trong vòng 10 ngày, bắt đầu ngay từ khi xuất hiện triệu chứng. dùng lượng kem bôi vừa đủ để bôi lên vùng bị thương rổn. Khi bôi nên dùng găng tay cao su hoặc găng ngón tay để tránh nhiễm trùng từ người khác hoặc tránh lấy nhiễm bệnh cho người khác 

– Thời gian tối đa cho một đợt điều trị là 4 tuần .

✅ Mọi người cũng xem : xuyên tâm liên là thuốc gì

Chống chỉ định:

– Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của chế phẩm.

– Không sử dụng kem ở vùng gần mắt, trong miệng hoặc trong âm đạo.

✅ Mọi người cũng xem : tratrison là thuốc gì

Tương tác thuốc:

Không có sự tương tác thuốc khi dùng khu trú do sự hấp thu vào máu rất thấp.

tác dụng phụ:

Có khi gặp cảm giác nóng hoặc kim châm nhất thời ở vị trí bôi kèm theo ban đỏ nhẹ khi khô. Các hiện tượng này sẽ hết khi ngưng thuốc.

Chú ý đề phòng:

sử dụng thận trọng ở người suy thận.

✅ Mọi người cũng xem : conipa là thuốc gì

Thông tin thành phần Acyclovir

Dược lực:

Acyclovir là một đồng đẳng purine nucleoside tổng hợp với các ảnh hưởng ức chế in vitro và in vivo chống lại virus gây bệnh herpes ở người.

Dược động học :

Acyclovir chỉ được hấp thu một phần ở ruột. Nồng độ tối đa trong huyết tương lúc ở trạng thái ổn định trung bình (Cmax) sau các liều 200 mg sử dụng mỗi 4 giờ là 3,1 micromole (0,7mcg/ml) và nồng độ tối thiểu (Cmin) là 1,8 micromole (0,4mcg/ml). Các nồng độ Cmax tương ứng sau các liều 400mg và 800mg sử dụng mỗi 4 giờ là 5,3 micromole (1,2mg/ml) và 8 micromole (1,8mg/ml), và Cmin tương ứng là 2,7 micromole (0,6mg/ml) và 4 micromole (0,9mg/ml).Ở người lớn, thời gian bán hủy cuối cùng trong huyết tương của acyclovir sau khi tiêm tĩnh mạch ở vào khoảng 2,9 giờ. Phần lớn thuốc được đào thải ở thận dưới dạng không đổi. Sự thanh thải ở thận lớn hơn thường xuyên so với thanh thải créatinine, tình trạng này cho thấy rằng rằng sự tiết ra ở ống thận cùng với quá trình lọc ở cầu thận đã góp phần vào việc đào thải thuốc ở thận. 9-carboxymethylguanine là chất chuyển hóa duy nhất có công dụng của acyclovir và chiếm khoảng 10-15% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu. Khi acyclovir được chỉ định sử dụng 1 giờ sau khi uống 1 g probenecide, thời gian bán hủy cuối cùng và diện tích dưới đường cong tăng thêm các tổng giá trị tương ứng là 18% và 40%.Ở người lớn, nồng độ Cmax sau khi tiêm truyền không quá 1 giờ các liều 2,5mg/kg, 5mg/kg, và 10mg/kg tương ứng là 22,7 micromole (5,1mcg/ml), 43,6 micromole (9,8mcg/ml) và 92 micromole (20,7mcg/ml). Các nồng độ tương ứng Cmin sau 7 giờ là 2,2 micromole (0,5mcg/ml), 3,1 micromole (0,7mcg/ml) và 10,2 micromole (2,3mcg/ml). Ở trẻ trên 1 tuổi, các nồng độ trung bình Cmax, Cmin cũng được tìm thấy khi cho liều 250mg/m2 được sử dụng thay vì cho 5mg/kg và liều 500mg/m2 được dùng thế cho 10mg/kg. Ở trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi được điều trị với các liều 10mg/kg qua đường tiêm truyền không quá 1 giờ mỗi 8 giờ, Cmax tìm thấy là 61,2 micromole (13,8mcg/ml) và Cmin là 10,1 micromole (2,3mcg/ml). Thời gian bán hủy cuối cùng trên những bệnh nhân này là 3,9 giờ. Ở người già, độ thanh thải toàn phần của cơ thể Giảm xuống theo tuổi tác đi kèm với Giảm thanh thải creatinin mặc dù có rất ít thay đổi ngay trong thời gian bán hủy cuối cùng trong huyết tương.Ở bệnh nhân suy thận mãn tính, thời gian bán hủy cuối cùng trung bình trong huyết tương là 19,5 giờ. Thời gian bán hủy trong thẩm phân máu của acyclovir là 5,7 giờ. Các nồng độ acyclovir trong huyết tương hạn chế xuống khoảng 60% trong quy trình thẩm phân. Nồng độ trong dịch não tủy đạt được vào khoảng 50% nồng độ tương ứng trong huyết tương. kết nối của thuốc với protein huyết tương tương đối thấp (9- 33%) và tương tác thuốc liên quan đến sự đổi chỗ tại vị trí gắn không được dự đoán trước.Acyclovir dưới dạng thuốc mỡ tra mắt nhanh chóng được hấp thu qua biểu mô giác mạc và các mô bề mặt của mắt cho hệ quả là nồng độ gây độc đối với virus đạt được trong thủy dịch. Người ta không thể tìm thấy acyclovir trong máu bằng những phương pháp hiện hành sau khi dùng tại chỗ thuốc mỡ tra mắt Acyclovir, mặc khác các dấu vết định lượng của thuốc đã có thể tìm thấy trong nước tiểu. mặc khác, những nồng độ trên không có ý nghĩa về mặt trị liệu.Tính gây quái thai: dùng acyclovir đường toàn thân trong những xét nghiệm theo tiêu chuẩn được quốc tế chấp nhận không gây ra độc tính trên thai nhi và không gây ra quái thai ở thỏ, chuột lớn và chuột nhắt.ảnh hưởng trên có khả năng sinh sản: các ảnh hưởng ngoại ý có hồi phục rộng rãi trên sự sinh tinh bào liên kết với độc tính toàn phần ở chuột và chó đã được báo cáo xuất hiện chỉ khi dùng các lượng acyclovir vượt quá rất nhiều những liều lượng sử dụng để điều trị.các thống kê trên hai thế hệ ở chuột không cho thấy tác động nào của acyclovir sử dụng đường uống lên có khả năng sinh sản.Ở loài người, chưa thấy ảnh hưởng nào trên khả năng sinh sản của Acyclovir lên phụ nữ. Viên nén Acyclovir cho thấy không có công dụng xác định nào lên số lượng, hình thái và sự vận động của tinh trùng ở người.

công dụng :

Acyclovir là một chất tương tự nucleosid (acycloguanosin), có công dụng chọn lọc trên tế bào nhiễm virus Herpes. Ðể có tác dụng acyclovir phải được phosphoryl hóa thành dạng có hoạt tính là acyclovir triphosphat. Ở chặng đầu, acyclovir được chuyển thành acyclovir monophosphat nhờ enzym của virus là thymidinkinase, sau đó chuyển tiếp thành acyclovir diphosphat và triphosphat bởi một số enzym khác của tế bào. Acyclovir triphosphat ức chế tổng hợp DNA của virus và sự nhân lên của virus mà không tác động gì đến chuyển hóa của tế bào bình thường.công dụng của acyclovir mạnh nhất trên virus Herpes simplex typ 1 (HSV – 1) và kém hơn ở virus Herpes simplex typ 2 (HSV – 2), virus Varicella zoster (VZV), tác dụng yếu nhất trên cytomegalovirus (CMV). Trên lâm sàng không thấy acyclovir có hiệu quả trên người bệnh nhiễm CMV. công dụng chống virus Epstein Barr vẫn còn chưa rõ. Trong quy trình điều trị đã xuất hiện một số chủng kháng thuốc và virus Herpes simplex tiềm ẩn trong các hạch không bị tiêu diệt.Acyclovir có tác dụng tốt trong điều trị viêm não thể nặng do virus HSV – 1, tỷ lệ tử vong có thể hạn chế từ 70% xuống 20%. Trong một số người bệnh được chữa khỏi, các biến chứng nghiêm trọng cũng giảm bớt. Acyclovir sử dụng liều cao tới 10 mg/kg thể trọng, cứ 8 giờ một lần, sử dụng trong 10 đến 14 ngày. Thể viêm não – màng não nhẹ hơn do HSV – 2 cũng có khả năng điều trị tốt với acyclovir.Ở người bệnh nặng, cần tiêm truyền acyclovir tĩnh mạch, như nhiễm HSV lan tỏa ở người suy giảm miễn dịch, người ghép tạng, bệnh máu ác tính, bệnh AIDS, nhiễm herpes tiên phát ở miệng hoặc sinh dục, herpes ở trẻ sơ sinh, viêm giác mạc nặng do Herpes, trường hợp này có khả năng dùng kèm thuốc nhỏ mắt acyclovir 3% để điều trị tại chỗ.

Chỉ định :
*Viên nén: Nhiễm virus herpes simplex da và niêm mạc, bao gồm herpes sinh dục khởi phát và tái phát. ngăn ngừa việc tái nhiễm herpes simplex trên người có miễn dịch bình thường. 

Dự phòng herpes simplex ở bệnh nhân suy yếu miễn dịch. 

Bệnh zona (herpes zoster). các nghiên cứu cho thấy rằng việc điều trị zona với Acyclovir trong giai đoạn sớm có tác động có lợi trên cảm giác đau và có thể làm Giảm mật độ tần suất đau dây thần kinh sau zona (đau liên quan đến zona). 

*Dạng kem: Nhiễm virus herpes simplex da bao gồm herpes môi và herpes sinh dục, khởi phát và tái phát. 

*Thuốc mỡ tra mắt: viêm giác mạc do herpes simplex.

Liều lượng – cách sử dụng:
Viên nén:

Ðiều trị herpes simplex ở người lớn:

Để điều trị nhiễm herpes simplex, nên sử dụng 200mg Acyclovir 5 lần hàng ngày cách khoảng 4 giờ để khỏi phải uống vào ban đêm. có thể điều trị trong vòng 5 ngày, nhưng có thể phải kéo dài hơn cho những nhiễn virus khởi phát trầm trọng.Trên những bệnh nhân suy yếu miễn dịch trầm trọng (như sau khi ghép tủy) hay những bệnh nhân bị Giảm hấp thu ở ruột, liều lượng có thể tăng gấp đôi thành 400mg hay có khả năng thay đổi bằng cách xem xét dùng đường tĩnh mạch. 

Nên bắt đầu trị liệu càng sớm càng tốt ngay khi nhiễm bệnh; cho những giai đoạn tái phát, trị liệu nên áp dụng trong giai đoạn tiền triệu hay ngay lúc bắt đầu xuất hiện sang thương. 

ngăn chặn herpes simplex ở người lớn: để ngăn chặn nhiễm herpes simplex ở bệnh nhân có khả năng miễn dịch bình thường, nên dùng 200mg Acyclovir 4 lần mỗi ngày, cách khoảng 6 giờ.nhiều bệnh nhân thấy thuận tiện lợi khi dùng liều 400mg 2 lần mỗi ngày cách khoảng 12 giờ.hạn chế liều xuống còn 200mg 3 lần hàng ngày cách khoảng 8 giờ hay thậm chí 2 lần hàng ngày cách khoảng 12 giờ cũng có khả năng cho kết quả hữu hiệu.một vài bệnh nhân có khả năng bị nhiễm đột phát với liều tổng cộng hàng ngày là 800mg.

Ðiều trị nên dừng lại sau mỗi 6-12 tháng để quan sát những thay đổi có thể xảy ra trong tiến trình một cách tự nhiên của bệnh.Phòng ngừa herpes simplex ở người lớn: để phòng ngừa herpes simplex ở những bệnh nhân bị tổn hại về miễn dịch, nên sử dụng 200mg Acyclovir 4 lần hàng ngày cách khoảng 6 giờ.

Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nghiêm trọng (như sau khi ghép tủy) hay bị hạn chế hấp thu thuốc ở ruột, có khả năng gấp đôi liều lên 400 mg hay có khả năng xem xét thay đổi ngay bằng phương pháp tiêm tĩnh mạch.Thời gian sử dụng thuốc phòng ngừa tùy thuộc vào thời kỳ có nguy cơ dài hay ngắn.

Ðiều trị bệnh zona (herpes zoster) ở người lớn: 

Để điều trị bệnh zona (herpes zoster), nên dùng 800mg Acyclovir 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ, khỏi phải uống vào ban đêm. Nên điều trị không quá 7 ngày.

Ðối với những bệnh nhân suy yếu miễn dịch nghiêm trọng (như sau khi ghép tủy) hay bị hạn chế hấp thu ở ruột, nên xem xét phương pháp dùng tiêm tĩnh mạch.Nên bắt đầu càng sớm càng tốt ngay sau khi nhiễm bệnh; điều trị có kết quả càng tốt nếu bắt đầu ngay khi khởi phát nổi ban.

Liều lượng dành cho trẻ em:

 đối với việc điều trị herpes simplex ở trường hợp bị suy yếu miễn dịch, trẻ em trên 2 tuổi nên dùng với liều dùng cho người lớn và trẻ dưới 2 tuổi nên dùng liều bằng một nửa liều cho người lớn. 

Chưa có số liệu đặc hiệu về ngăn ngừa nhiễm herpes simplex hay điều trị bệnh zona (herpes zoster) ở trẻ em có thể miễn dịch. 

Người già: ở người già, độ thanh thải toàn phần acyclovir của cơ thể sút Giảm song song với thanh thải créatinine. Nên duy trì bổ sung nước cho bệnh nhân dùng Acyclovir với liều cao. 

Nên đặc biệt chú ý hạn chế liều ở bệnh nhân suy thận.

Suy thận: trong việc kiểm soát nhiễm herpes simplex ở bệnh nhân suy thận, liều khuyến cáo đường uống không đưa đến sự tích tụ acyclovir trên mức được xác định là an toàn khi tiêm tĩnh mạch.

mặc khác, ở những người suy thận trầm trọng (độ thanh thải créatinine dưới 10ml/phút) nên điều chỉnh liều thành 200mg 2 lần hàng ngày, cách khoảng 12 giờ. 

Trong điều trị bệnh zona (herpes zoster), nên dùng 800mg 2 lần hàng ngày, cách khoảng 12 giờ đối với bệnh nhân suy thận trầm trọng (thanh thải créatinine dưới 10ml/phút) và 800mg 3 lần mỗi ngày, cách khoảng 8 giờ cho bệnh nhân suy thận trung bình (thanh thải créatinine trong khoảng 10-25ml/phút). 

Acyclovir kem: 

Cho người lớn và trẻ em, nên bôi 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ, khỏi sử dụng vào ban đêm. Kem Acyclovir nên bôi vào sang thương hay nơi sang thương sắp xảy ra càng sớm càng tốt ngay sau khi nhiễm. 

Việc điều trị các giai đoạn tái phát đặc biệt quan trọng cần bắt đầu ngay trong giai đoạn tiền triệu hay ngay khi sang thương bắt đầu xuất hiện.Nên liên tục điều trị không quá 5 ngày. Nếu chưa lành, có khả năng kéo dài trị liệu thêm đến 10 ngày. 

Thuốc mỡ tra mắt Acyclovir: 

Cho người lớn và trẻ em, tra vào túi cùng kết mạc một lượng thuốc bóp ra khoảng 10mm, 5 lần mỗi ngày cách khoảng 4 giờ. Nên tiếp tục điều trị ít nhất 3 ngày sau khi lành.

Chống chỉ định :

Bệnh nhân được biết là có quá mẫn với acyclovir.Dạng kem: Quá mẫn với propylenglycol.

tác dụng phụ

– Viên nén: nổi ban da đã được báo cáo xuất hiện trên một số bệnh nhân dùng viên nén và tự khỏi khi ngưng thuốc. Các công dụng trên đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng đã được báo cáo xuất hiện ở bệnh nhân sử dụng thuốc viên nén. Trong những thử nghiệm mù đôi sử dụng giả dược được kiểm soát, tần suất các biểu hiện rối loạn trên đường tiêu hóa tìm thấy không khác biệt nhéu lắm giữa nhóm sử dụng giả dược và nhóm sử dụng acyclovir.Các phản ứng thần kinh có hồi phục, đáng chú ý là chóng mặt, tình trạng lẫn lộn, ảo giác và buồn ngủ đã được báo cáo xuất hiện đôi lúc, thường là với bệnh nhân suy thận hay có những yếu tố tạo khuynh hướng mắc bệnh.một số báo cáo về chứng gia tăng rụng tóc lan tỏa. Do loại chứng bệnh này thường kết nối với thường xuyên loại thuốc và các tiến triển bệnh khác nhau, mối LH giữa biểu hiện này với liệu pháp acyclovir không được chắc chắn.Còn có những trường hợp rất hiếm được báo cáo xảy ra với người uống Acyclovir bao gồm việc tăng nhẹ và thoáng qua bilirubine và các men gan, tăng nhẹ urea và creatinin máu, hạn chế nhẹ các chỉ số huyết học, nhức đầu, có những phản ứng thần kinh nhẹ có phục hồi và mệt mõi.- Dạng kem: cảm giác rát bỏng và xót có thể xảy ra với một số bệnh nhân khi bôi thuốc. Nổi ban hay ngứa cũng đã được báo cáo xảy ra trong một số ít bệnh nhân.- Thuốc mỡ tra mắt: ở một vài nhỏ bệnh nhân có thể xuất hiện cảm giác xót nhẹ thoáng qua ngay sau khi tra thuốc vào mắt. Bệnh giác mạc đốm nhỏ nông cũng đã được báo cáo. Dấu hiệu này không rất cần thiết phải ngưng thuốc sớm và sẽ lành không có biến chứng rõ rệt.Kích ứng và viêm tại chỗ, như viêm mi mắt và viêm giác mạc đã được báo cáo xảy ra ở bệnh nhân dùng thuốc mỡ tra mắt Acyclovir.

Lưu ý: dùng thuốc theo chỉ định của Bác sĩ




Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *